Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Lâng lâng hạnh phúc (Chúa nhật II mùa Chay, năm A)

Lâng lâng hạnh phúc

(Chúa nhật II mùa Chay, năm A)

Hạnh phúc là niềm mơ ước suốt cuộc đời của bất kỳ ai. Mưu cầu hạnh phúc là mơ ước chính đáng và là quyền cơ bản của con người. Hạnh phúc đa dạng, với nhiều mức độ. Hạnh phúc ở gần chứ không xa. Tuy nhiên, hạnh phúc cũng dễ khiến người ta ảo tưởng nếu đòi hỏi thái quá. Cũng như tình yêu, chẳng ai có thể định nghĩa chính xác thế nào là hạnh phúc. Tất cả chỉ là tương đối.

Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc cao cấp của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Hạnh phúc mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí, là cảm giác thoải mái khi đạt được một giá trị, một mục đích, một kết quả... nhưng điểm khác nhau nằm ở tính hữu hình hay vô hình của giá trị, của mục đích, của kết quả đạt được về nhiều lĩnh vực: tình yêu, thành công, nổi tiếng, giàu có,... Hạnh phúc và sung sướng có nghĩa gần giống nhau, hạnh phúc hiểu theo nghĩa tinh thần, trừu tượng; sung sướng hiểu theo nghĩa vật chất, cụ thể.
Muốn hạnh phúc thì phải đi tìm. Đi tìm hạnh phúc không phải là sẽ “nhặt” được nó như nhặt được một vật thể, cũng không thể ngồi chờ sung rụng, mà phải chủ động “tạo” ra nó. Nghĩa là chấp nhận với những gì mình có hiện tại thì sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng không hề dễ thực hiện được động thái “chấp nhận” như vậy!

ĐAU KHỔ ĐI TRƯỚC

Có đau khổ mới biết thế nào là hạnh phúc. Cũng như có bị tù đày rồi mới nhận thức được tự do và biết quý tự do. Có gian nan vất vả mới nên người, thành nhân tài. Chính đau khổ là “chất xúc tác” cho những tác phẩm giá trị. Càng dày kinh nghiệm thì tác giả càng có được những tác phẩm hay. Những người giỏi đều là những người đã từng vật lộn với cuộc sống khó khăn vô cùng. Giàu có và sung sướng không tạo nên vĩ nhân, như một chí sĩ (*) đã nói: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả / Anh hùng hào kiệt có hơn ai?”.

Ngày ấy, Đức Chúa phán với ông Áp-ram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12:1-3).

Đang an cư lạc nghiệp, đùng một cái phải ra đi, chúng ta có dám đi không? Ba lần dời nhà bằng một lần cháy nhà. Chắc chắn là rất khó ra đi, vì giằng co dữ dội và cần phải can đảm mà dứt khoát ngay. Cũng vẫn khó ra đi dù biết rõ nơi đến như thế nào – phải ra đi vì đất quy hoạch, bị giải tỏa, có nguy cơ bão lũ hoặc động đất,… huống chi ra đi mà không biết nơi đó ra sao, ngày mai thế nào. Vậy mà “ông Áp-ram ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông” (St 12:4a). Không chỉ vậy, khi rời Kha-ran, “ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi” (St 12:4b) chứ đâu còn trẻ trung gì nữa! Quả thật, đức tin của ông lớn quá! Vì thế ông được gọi là Áp-ra-ham, nghĩa là “người cha vĩ đại của muôn dân tộc” (Hc 44:19).

Theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa, “ông Áp-ram đem theo vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Kha-ran. Họ ra đi về phía đất Ca-na-an và đã tới đất đó” (St 12:5). Tổ phụ Áp-ram ra đi vì ông tín thác vào Thiên Chúa quan phòng, đồng thời ông còn vâng lời tuyệt đối. Kinh thánh xác định: “Vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Vì vâng lời vô điều kiện, ông an tâm và vui vẻ, tức là ông hạnh phúc. Niềm hạnh phúc của người biết tín thác vào Thiên Chúa thì luôn miên man và lâng lâng khó tả, chắc chắn là thế!

Một khi Thiên Chúa hứa gì thì luôn chắc chắn, luôn giữ đúng lời, vì đó là luật, Ngài làm luật nên Ngài tôn trọng luật, như Chúa Giêsu nói: “Trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết của Lề Luật rụng mất” (Lc 16:17). Tác giả Thánh Vịnh xác nhận: “Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất” (Tv 33:4-5).

Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng giàu lòng thương xót, luôn quan tâm thụ tạo mà Ngài đã tạo nên: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn. Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Người luôn che chở phù trì” (Tv 33:18-20). Với niềm thành tín, tác giả Thánh Vịnh bộc bạch: “Vâng, có Người, chúng tôi mừng rỡ, vì hằng tin tưởng ở Thánh Danh” (Tv 33:21).

Dù biết Thiên Chúa tận tình như vậy, chúng ta vẫn không được ỷ lại, mà phải liên lỉ cầu nguyện: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22). Tương tự câu “xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Nghĩa là chúng ta trông cậy ở mức nào thì được nhận lòng thương xót như vậy, chúng ta tha thứ cho người khác thế nào thì được nhận ơn tha thứ như thế. Đó là công bình, là công lý, và cũng là chân lý. Không thể CHO ít mà đòi NHẬN nhiều. Thiên Chúa không bao giờ “bù lỗ” kiểu đó!

Tuy nói với Ti-mô-thê, nhưng cũng là nói với mỗi chúng ta, Thánh Phaolô căn dặn: “Anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (2 Tm 1:8). Mọi người đều phải nỗ lực!

Tại sao phải nỗ lực làm chứng như vậy? Lý do tất yếu: “Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tm 1:10).

Thực hiện như vậy thì chúng ta sẽ được tận hưởng niềm hạnh phúc trong Đức Kitô, được trường sinh và vĩnh cư trong Vương Quốc Hằng Sống. Đó là niềm hạnh phúc vĩnh viễn.

HẠNH PHÚC THEO SAU

Ai khổ luyện thì sẽ thành tài. Vất vả trồng cây thì sẽ có ngày hưởng trái ngọt. Đó là quy luật chung muôn thuở, như người Việt cũng nói: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Là điều tất nhiên và hoàn toàn hợp lý!

Sau khi tiên báo cuộc thương khó của Ngài được sáu ngày, Đức Giêsu đem theo các đệ tử là Phêrô, Giacôbê và Gioan (em ông Giacôbê). Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Các ông chưa hết ngỡ ngàng thì bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người.

Quá hưng phấn, ông Phêrô thưa ngay với Sư Phụ mà không cần so đo tính toán hi cả: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia” (Mt 17:4). Không hề nhắc tới lều cho ba anh em, nghĩa là sao cũng được, ở “khách sạn ngàn sao” cũng được, miễn sao tận hưởng niềm hạnh phúc lâng lâng như thế. Các ông được sống trong niềm hạnh phúc khôn tả đó là được nếm thử hạnh phúc Nước Trời, nhờ đó mà ráng chịu cực ở trần gian này.

Hết ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Một lần nữa, các ông lại mắt chữ O và miệng chữ A. Ngạc nhiên mà thú vị. Sướng rơn! Ông Phêrô còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17:5). Trước đó, sau khi Thánh Gioan Tẩy giả làm Phép Rửa cho Chúa Giêsu tại sông Giođan, Chúa Cha cũng xác nhận tương tự về Đức Kitô Giêsu: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3:17).

Lần này thì khác hẳn, vừa nghe vậy thì các ông kinh hoàng và ngã sấp mặt xuống đất. Chu choa, hết hồn luôn! Nhưng may mà không xây xát chút nào, dù té lăn cù trên đá sỏi lởm chởm. Thấy thế, Đức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17:7). Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giêsu mình ên. Kỳ lạ thật đấy, chả hiểu gì ráo trọi!

Trên đường thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giêsu truyền cho các ông: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17:9). Các ông im lặng nhưng chắc là gãi đầu miết, vì chả hiểu át giáp gì, nhưng các ông cũng không dám hỏi Thầy, dù chỉ nửa lời. Lạ thật, nhưng cũng “đã” thật:

Ôi, niềm hạnh phúc lâng lâng
Lên Ta-bo thấy vinh quang tuyệt vời
Rõ ràng mắt thấy hẳn hoi

Ơn Chúa muôn đời mầu nhiệm, bao la…

Lạy Thiên Chúa chí ái, xin thương tha thứ cho chúng con về những ước mơ đã không hợp Ý Ngài, xin chấn chỉnh nếp nghĩ của chúng con cho đúng đường lối công minh của Ngài. Xin ban thêm ba nhân đức đối thần để chúng con đủ sức vượt qua mọi trở ngại trên đường đi tìm hạnh phúc. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU


(*) Có người cho hai câu thơ đó của cụ Nguyễn Công Trứ, có người lại cho là của cụ Phan Bội Châu.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét