1

www.luongtamconggiaovietnam.blogspot.com

2

www.luongtamconggiaovietnam.blogspot.com

3

www.luongtamconggiaovietnam.blogspot.com

4

www.luongtamconggiaovietnam.blogspot.com

5

www.luongtamconggiaovietnam.blogspot.com

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Hỏa ngục

LTCGVN (02.10.2013)

Hỏa ngục
Hỏa ngục hoặc địa ngục là tình trạng bị trừng phạt ở đời sau, nơi các linh hồn chết khi mắc tội trọng phải chịu đau khổ đời đời cùng với Ác thần và ma quỷ. Sự hiện hữu của hỏa ngục là một thực tế có thật, và là một giáo huấn không thể bác bỏ của Giáo hội Công giáo.
Theo Giáo lý Công giáo, chúng ta không thể kết hiệp với Chúa nếu chúng ta không yêu mến Ngài. Nhưng chúng ta không thể yêu mến Chúa nếu chúng ta mắc tội trọng, vì tội trọng chống lại Thiên Chúa, chống lại tha nhân và chống lại chính chúng ta. Chết khi mắc tội trọng mà chưa ăn năn, chưa chấp nhận lòng thương xót của Chúa, nghĩa là chúng ta vẫn xa cách Ngài mãi mãi, lỗi tại chúng ta đã chọn cách đó. Tình trạng tự loại bỏ mình khỏi Thiên Chúa và đáng nguyền rủa như vậy được gọi là HỎA NGỤC.
Thiên Chúa không muốn ai xuống hỏa ngục. Tuy nhiên, con người có tự do – chúng ta tự do chọn Chúa hoặc từ khước Ngài. Những người từ khước Thiên Chúa trong cuộc sống này thì không thể kết hiệp với Ngài trên trời. Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Hỏa ngục không là hình phạt do Thiên Chúa bắt phải chịu mà là sự phát triển những tiền đề do con người sắp sẵn từ đời này”.
Thiên Chúa không tiền định cho ai vào hỏa ngục. Vào hỏa ngục là “cố ý xa rời Thiên Chúa (tội trọng), và ngoan cố cho đến cùng” (Giáo lý Công giáo – GLCG).
Tội trọng là gì?
Giáo hội Công giáo dạy rằng tội trọng chưa được ăn năn khi chết sẽ khiến người ta chết đời đời. Nhưng nghĩa chính xác của “tội trọng” là gì? GLCG dạy: “Tội trọng là vi phạm điều nghiêm trọng với ý thức đầy đủ và hoàn toàn ưng thuận”.
GLCG giải thích: “Cẩn thận chọn lựa – nghĩa là biết và muốn – điều gì đó trái ngược với luật Chúa và giữ tới cuối đời là phạm tội trọng. Điều này hủy hoại sự nhân ái trong chúng ta mà không thể được phúc đời đời. Không ăn năn dẫn tới sự chết đời đời”.
Hỏa ngục là đời đời?
Giáo hội xác định rõ ràng sự hiện hữu của hỏa ngục và tính chất đời của nói: “Ngay sau khi chết, linh hồn của những người chết trong tình trạng tội trọng đều vào hỏa ngục, nơi họ chịu hình phạt của hỏa ngục, lửa đời đời”.
Hỏa ngục và đau khổ ở Hỏa ngục thế nào?
Đau khổ khủng khiếp nhất trong hỏa ngục là linh hồn phải xa lìa Thiên Chúa. Chúng ta được tạo dựng cho Thiên Chúa. Sau khi chết, linh hồn hướng về Thiên Chúa với lực rất mạnh, như sao băng rơi xuống đất. Linh hồn khao khát Thiên Chúa, như cá rất cần nước khi nó bị bắt lên bờ. Những mơ ước của tâm hồn khiến chúng ta ray rứt suốt đời (tài sản, quyền lực, vinh dự, niềm vui, thành công,…) vội biến mất như ký ức xa xưa, tiêu tan như sương tan chảy trong ánh nắng.
Nhưng linh hồn phạm tội trọng nhận biết tình trạng của mình, lập tức bị Thiên Chúa phán xét và phải vào hỏa ngục: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó!” (Mt 25:41). Sự từ khước đó khiến chúng ta bị áp đảo – nó thiêu đốt chúng ta theo cách khủng khiếp nhất về thể xác mà không thể tái tạo.
Hãy tưởng tượng khi mẹ của chúng ta nói với chúng ta: “Đi cho khuất mắt tao, mày là đứa con mất dạy! Tao không bao giờ muốn thấy mặt mày nữa!”. Hãy tưởng tượng nỗi đau của một người mẹ khi đứa con không nhìn nhận mình là mẹ. Chúng ta không thể chịu được những nỗi đau như vậy, và khiến nhiều người thất vọng. Hãy so sánh nỗi đau đó với nỗi đau bị Chúa từ khước, chúng ta sẽ cô đơn đến cùng cực, đó là nỗi đau khổ của các linh hồn sau khi chết phải vào hỏa ngục.
Linh hồn bị thiêu đốt trong hỏa ngục sẽ mãi mãi xa lìa Thiên Chúa, mãi mãi bị ray rứt, phải chịu đựng nỗi vô vọng vì không được kết hiệp với Chúa. Linh hồn đó sẽ bị dằn vặt vì nỗi khao khát khôn nguôi, nhưng không bao giờ được thỏa mãn. Linh hồn đó mãi mãi khát vọng Chúa, nhưng chẳng bao giờ được gặp Ngài, vì đó là lỗi của họ đã tự do từ khước Ngài. Chúng ta không thể tưởng tượng nỗi đau khổ đó tới mức nào. Thật khủng khiếp!
Giáo hội dạy chúng ta rằng có sự hành hạ bởi lửa trong hỏa ngục – lửa này không như lửa trần gian, mà lửa tinh thần thiêu đốt cả linh hồn và thân xác (vì thân xác chúng ta sẽ tái kết hợp với linh hồn vào ngày tận thế). Hãy tưởng tượng nỗi đau đớn và nỗi thống khổ đó như lấy lửa đốt tay chúng ta chỉ 1 phút thôi, chắc hẳn chúng ta không thể chịu nổi. Hãy tưởng tượng “lửa đau khổ” đó mạnh hơn lửa trần gian hàng triệu lần, không chỉ thiêu đốt trong 1 phút, mà thiêu đốt đời đời.
Nhưng có một nỗi đau khác sẽ làm linh hồn đau khổ trong hỏa ngục, đó là sự dằn vặt khôn nguôi vĩnh viễn làm linh hồn đau khổ – chính linh hồn đó nhận biết sự bội bạc và tội lỗi của mình. Hãy tưởng tượng nỗi đau khổ khi nhận biết niềm hạnh phúc vô cùng khi được ở trước Tôn Nhan Chúa trên trời, nhưng vì tội lỗi và sự tự do của mình mà linh hồn phải chịu hành hạ đời đời.
Dĩ nhiên chúng ta không thể tưởng tượng được sự hành hạ đời đời, nhưng linh hồn sa hỏa ngục phải mãi mãi chịu sự kiềm chế của Satan, ác thần và ma quỷ. Chúng ta sẽ phải đối diện với Satan, và mãi mãi nguyền rủa hắn. Chúng mai mỉa chúng ta và nguyền rủa chúng ta – và cùng với chúng, chúng ta cũng sẽ nguyền rủa Thiên Chúa và phỉ báng Ngài với cách tồi tệ nhất. Các linh hồn sa hỏa ngục không thể yêu thương, và không có gì khác ngoài sự ghen ghét.
Làm sao biết có Hỏa ngục?
Chúng ta biết có hỏa ngục vì chính Chúa Giêsu đã xác định như vậy. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, chứ không chỉ là thánh nhân hoặc tiên tri. Ngài chứng tỏ thần tính của Ngài qua các phép lạ: Làm cho người chết sống lại, và làm những điều mà những người bình thường không thể làm. Đặc biệt là Ngài chứng tỏ thần tính của Ngài khi Ngài phục sinh – chỉ có Thiên Chúa mới khả dĩ làm vậy, kiểm soát cả sự sống và sự chết.
Các tông đồ và các môn đệ là những nhân chứng của sự kiện này, và Kinh Thánh đã ghi lại các chứng cớ đó. Liệu họ có bị lừa không? Họ có là những người nói dối và thêu dệt những chuyện chết đi rồi sống lại? Không thể như vậy, với lý do đơn giản là họ đã chết để làm chứng sự thật này. Liệu bạn có dám chết vì điều dối trá? Họ đã hết lòng tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, và tin cho đến chết.
Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhiều lần Ngài đã nói rằng CÓ HỎA NGỤC, vì thế hỏa ngục phải có thật! Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu đã nói về hỏa ngục hơn 50 lần! Ngài nói cho chúng ta biết về “lò lửa”, nơi người ta “phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13:42). Ngài nói với chúng ta về hỏa ngục với “lửa không hề tắt” (Mc 9:43). Ngài giải thích cho chúng ta biết rằng hỏa ngục là nơi đau khổ đời đời, không thể rút lại hoặc giảm bớt đau khổ, như trong dụ ngôn “phú hộ và Ladarô” (Lc 16:19-31).
Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta về sự tức giận, chê bai và chửi bới tha nhân, vì liên quan hỏa ngục: “Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt 5:22).
Việc làm gương xấu liên quan hỏa ngục: “Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13:41-42).
Chúa Giêsu nói thẳng: “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt” (Mc 9:43).
Các tông đồ cũng nói tới hỏa ngục nhiều lần trong Tân ước, đề cập Hỏa ngục là “nơi u ám tối tăm” (2 Pr 2:17), “cảnh huỷ diệt tiêu vong” (1 Tm 6:9), “sự hư nát” (Gl 6:8), “chỗ chết” (Rm 6:21), “cái chết thứ hai” (Kh 2:11), “hồ lửa” (Kh 20:14), và nhiều cách nói khác...
Trong Cựu ước, có hơn 30 lần nói tới hỏa ngục. Chẳng hạn: “Khốn thay dân tộc nào dám đứng lên chống lại giống nòi tôi! Đức Chúa toàn năng sẽ trừng phạt chúng trong ngày Người xét xử. Người sẽ khiến lửa thiêu, khiến giòi bọ rúc rỉa thân xác chúng. Chúng sẽ phải than khóc và đau khổ muôn đời!” (Gđt 16:17). Hoặc: “Hãy xa ra, đừng tiến lại gần, vì ta quá thánh đối với ngươi. Những điều đó khiến cơn giận Ta bừng lên như lửa cháy suốt ngày” (Is 65:5).
Tại sao Thiên Chúa thương xót lại tạo Hỏa ngục với hình phạt đời đời?
Hỏa ngục là nơi Thiên Chúa trừng phạt chúng ta vì tội lỗi chúng ta đã phạm. Đó là tình trạng đau khổ mà chính chúng ta đã tự do chọn lựa khi còn sinh thời: Chọn Chúa hoặc bỏ Chúa. Những người từ khước Chúa khi sinh thời và chết mà không ăn năn sám hối, tức là tự kết án mình và tự làm khổ mình vì quyết định riêng. Hỏa ngục không là hình phạt do Thiên Chúa bắt phải chịu, nhưng đó là ý muốn tự do của chúng ta mà thôi.
Thiên Chúa vô cùng tốt lành và nhân hậu. Ngài muốn chúng ta kết hiệp với Ngài trên trời. Thật vậy, thậm chí Ngài còn sai Con Một Giêsu đến thế gian chịu chết vì chúng ta, để chúng ta có cơ hội vào Nước Trời. Nhưng có điểm quan trọng phải ghi nhớ: Chúng ta hoàn toàn được tự do chọn lựa cách sống. Chúng ta tự do chọn Chúa hoặc bỏ Chúa. Thiên Chúa không nhẫn tâm, không hề muốn ném chúng ta vào lửa hỏa ngục.
Thật vậy, Thiên Chúa trở nên “yếu đuối” trước ý muốn tự do của chúng ta. Ngài không thể ép chúng ta yêu mến Ngài, phục vụ Ngài, và kết hiệp với Ngài trên trời. Chúng ta tự do từ bỏ Ngài. Chúng ta tự do muốn sống không cần Ngài – cả đời này và đời sau. Khi sống đối lập với Thiên Chúa, chúng ta tự kết án mình và tách rời khỏi Ngài trong đời sau.
Chân phước Gioan Phaolô II, trong lần tiếp kiến chung ngày 28-7-1999, nói rõ về điểm này: “Thiên Chúa vô cùng tốt lành và là Cha nhân hậu. Nhưng nhân loại, được mời gọi tự do đáp lại Ngài, có thể chọn cách từ khước tình yêu và sự tha thứ của Ngài, như vậy thì tự tách mình khỏi Ngài mãi mãi và không muốn kết hiệp với Ngài. Vì tình trạng bi thảm này mà giáo lý Công giáo giải thích khi nói về sự kết án đời đời hoặc hỏa ngục. Đó không là hình phạt đời đời do Thiên Chúa bắt phải chịu mà là do nhân loại tạo ra lúc sinh thời. …Theo nghĩa thần học, hỏa ngục là cái khác: Đó là hậu quả của tội lỗi, nó chống lại chính người đã vi phạm. Đó là tình trạng của những người từ khước lòng thương xót của Chúa, ngay cả trong giây phút cuối đời. Hỏa ngục cho thấy tình trạng của những người tự ý tách khỏi Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Sống và Nguồn Vui”.
Cũng trong lần tiếp kiến chung đó, Chân phước Gioan Phaolô II giải thích: “Do đó, sự kết án đời đời không do Thiên Chúa, vì với lòng thương xót vô biên, Ngài chỉ có thể muốn cứu độ các thụ tạo của Ngài. Đó là những thụ tạo gần gũi với tình yêu của Ngài. Sự kết án là do tách khỏi Thiên Chúa, nhân loại tự ý chọn và cố chấp tới lúc chết. Sự phán xét của Thiên Chúa xác nhận tình trạng này”.
Thế nào là thái độ đúng đắn với Hỏa ngục?
Kinh Thánh nói: “Trí tôi đã học hỏi được nhiều điều khôn ngoan, tích luỹ được bao nhiêu kiến thức; tôi đã chú tâm phân biệt đâu là khôn ngoan, tri thức, đâu là điên rồ, khờ dại. Ngay cả việc này nữa, tôi nhận thấy đó cũng chỉ là công dã tràng” (Gv 1:16-17). Sẽ là vô cùng điên rồ và ngu xuẩn, nếu chúng ta sống hoàn toàn khinh suất và dửng dưng đối với thực tế về hỏa ngục.
HỎA NGỤC CÓ THẬT. Chúa Giêsu đã nói rõ ràng. Trong nhiều cuộc mặc khải đã được Giáo hội chuẩn nhận, nhiều vị thánh và nhiều nhà thần bí đã chứng tỏ sự hiện hữu thật của hỏa ngục, và đã thuật lại sự khủng khiếp của hỏa ngục. Kính sợ Chúa, sợ tách rời Ngài trong sự sống đời sau, đó là bắt đầu khôn ngoan.
Cạm bẫy của ma quỷ là thuyết phục người ta rằng hỏa ngục chỉ là trò đùa, là lỗi thời, chứ chẳng có nơi nào như thế trong xã hội tiến bộ ngày nay. Chúng ta nên sống với con mắt tâm linh chăm chú vào phần thưởng Nước Trời, và thực sự nhận biết án phạt đời đời.
Trong cuốn “The 7 Habits of Highly Effective People” (Bảy Thói Quen của Những Người Sống Hiệu Quả – loại sách bán rất chạy), tác giả Steven Covey viết: “Chúng ta nên luôn bắt đầu bằng sự kết thúc trong trí óc”. Để sống tâm linh hiệu quả, có thể chúng ta cần lời khuyên của Covey và mỗi ngày bắt đầu sống với “sự kết thúc trong tâm trí” – nghĩa là chú ý vào Quê Trời, nhận thức về hỏa ngục, cố gắng tránh lửa đời đời.
Giáo huấn Công giáo về Hỏa ngục
Bạn có bao giờ tự hỏi xem đời mình sẽ kết thúc ở đâu? Điều gì sẽ xảy ra với linh hồn sau khi bạn chết? Sự chết không là vấn đề vui để nói tới, nhưng đó là một thực tế không thể né tránh, sớm muộn gì rồi chúng ta cũng phải đối diện. Cuộc đời này là thời gian thử thách, là nền tảng xác nhận tình yêu của chúng ta dành cho Chúa. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều phải chấm dứt cuộc sống này. Ai cũng phải chết, cách này hay cách khác. Điều cuối cùng xảy ra với mỗi người là: Chết, chịu phán xét, vào Nước Trời hoặc Hỏa ngục.
Chết là hồn lìa khỏi xác. Thân xác sẽ hư nát nhưng linh hồn bất tử phải trình diện Chúa. Đó là phán xét riêng. Linh hồn được thấy cả cuộc sống của mình – mọi tư tưởng, lời nói, hành động, thiếu sót,... Đã sống thế nào? Chết trong ơn nghĩa Chúa hay chết trong tội trọng? Đức Kitô sẽ có phán quyết dành cho linh hồn – Nước Trời, luyện ngục, hoặc hỏa ngục!
Chúa Giêsu đã cho biết hỏa ngục là nơi có “lửa không hề tắt” (Mc 9:43, Mt 5:22 & 29; Mt 10:28). Và Ngài xác định: “Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13:41-42).
Hỏa ngục hiện hữu đời đời. Đó là nơi có thật và khủng khiếp. Ở đó, nhiều linh hồn bị kết án “tù chung thân đời đời” – đó là những người đã từ khước tình yêu Chúa khi họ còn sống trên thế gian, họ không hòa giải với Chúa, không thạt lòng ăn năn sám hối những động thái sai trái của mình, họ chết khi còn mắc tội trọng.
Hỏa ngục như thế nào? Chẳng ai biết chính xác vì chưa có ai vào đó rồi về kể lại. Nhưng chúng ta biết chắc đó là nơi có lửa đời đời – vì Chúa Giêsu đã nói vậy. Đó là trạng thái mà những linh hồn bị kết án chịu đau khổ cùng cực. Hình phạt ở hỏa ngục gấp đôi: Đau khổ về ý thức và đau khổ về mất mát.
Đau khổ về ý thức vì “lửa không hề tắt”, nhưng đó là lửa chúng ta không thể biết. Đó không là lửa như chúng ta thấy trên thế gian. Chúng ta gọi là “lửa” vì phàm ngôn chỉ diễn tả được như vậy. Lửa chúng ta biết ở thế gian chỉ là “gió mát” so với lửa ở hỏa ngục.
Chị Lucia, lúc đó mới 10 tuổi, lớn nhất trong ba trẻ được Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (Bồ Đào Nha), đã diễn tả thị kiến về Hỏa ngục mà Đức Mẹ cho thấy: “Tia sáng tỏa ra từ tay Đức Mẹ như xuyên qua trái đất, và chúng tôi thấy một biển lửa. Trong biển lửa đó là ma quỷ và các linh hồn như những cục than đỏ nóng rực, trong suốt và đen hoặc đỏ với dạng con người nổi bồng bềnh trong đó... giữa những tiếng rên la thảm thiết vì đau khổ và vô vọng khiến chúng tôi sợ hãi. Ma quỷ khác biệt với những dạng thú vật khủng khiếp, nhưng chúng trong suốt như những cục than đỏ nóng rực”.
Thánh tiến sĩ Teresa Avila đã được Chúa cho thị kiến về hỏa ngục, bà mô tả: “Một hôm, khi tôi đang cầu nguyện, bất ngờ tôi vào hỏa ngục. Tôi nghĩ lối vào như một lối hẹp, như lò lửa, rất tối tăm và tù túng. Nền như đầy nước hôi thối, và có nhiều loại ghê tởm nhìn như rắn rết. Ở phía cuối có khoảng không thăm thẳm mà tôi thấy mình bị nhốt chặt. Nhưng cảnh tượng đó còn dễ chịu so với những gì tôi cảm thấy. Không còn cách nào khủng khiếp hơn. Tôi cảm thấy lửa trong linh hồn tôi, tôi không thể diễn tả được. Đau khổ thể xác quá đỗi ghê gớm... thật là vô cùng và không ngừng... Tôi bất lực trong vô vọng... Tôi cảm thấy ngột ngạt... Không có ánh sáng và mọi thứ chìm trong sự tối tăm. Tôi không thể diễn tả nó như thế nào, dù không có ánh sáng nhưng có thể thấy mọi thứ gây ra đau khổ...”.
Nếu đau khổ về ý thức là điều khủng khiếp thì đau khổ về mất mát còn tệ hại hơn nhiều. Những linh hồn sa hỏa ngục bị tước mất Thiên Chúa và xa cách Ngài mãi mãi. Con người được tạo dựng cho Thiên Chúa nhưng nay con người không bao giờ có thể đạt được những gì được tạo nên cho mình, và đó là đau khổ khủng khiếp nhất mà linh hồn phải chịu. Thiên Chúa là tình yêu và Thiên Chúa là mẫu mực của con người.
Con người cố gắng xác định theo khuôn mẫu Chúa nhưng những người trong hỏa ngục bị tước mất Thiên Chúa và cảm thấy không yêu thương mà chỉ ghen ghét. Vì không đạt được những gì được tạo nên cho mình, con người tự xé nát. Chẳng lạ gì khi hỏa ngục đầy ma quái với cảnh “khóc lóc và nghiến răng”, vì đó sự tuyệt vọng vô cùng.
Thánh Teresa nói tiếp: “...Không gì có thể so sánh với sự đau khổ của linh hồn, sự bức xúc, sự ngột ngạt và ưu phiền quá mạnh đến nỗi tôi không thể diễn tả được... linh hồn tự xé nát... Tôi không thể diễn tả lửa nội tâm và sự thất vọng lớn hơn những sự hành hạ và đau đớn ghê gớm nhất”.
Linh hồn sa hỏa ngục không ngừng bạo lực với chính mình mà không mong gì giảm bớt. Họ không thể giao tiếp với nhau. Trong hỏa ngục không có cách nào có thể nối kết họ hoặc giúp họ xích lại gần nhau. Họ không thể cởi mở với các bạn đau khổ khác vì sự ghen ghét xiềng xích họ khiến người này tách rời người khác. Mỗi linh hồn đều mãi mãi cô đơn, ghét chính mình và ghét người khác vì họ chỉ cảm thấy ghen ghét mà thôi!
Mỗi linh hồn sa hỏa ngục đều nổi loạn trong “vùng lửa” của mình, muốn thoát khỏi mình và thoát khỏi người khác với lòng ghen ghét cực mạnh: Ích kỷ, bất lực, đau khổ, khiếp sợ, vô vọng. Đó là tình trạng vô vọng vĩnh viễn, vì hỏa ngục là cuối cùng và không thể thay đổi được.
Ma quỷ có thật, láu cá, ranh ma, mánh khóe, thủ đoạn, dối trá,... Nó sẽ làm mọi cách để quyến rũ chúng ta để chúng ta sập bẫy thủ đoạn của nó. Tuy nhiên, Thiên Chúa không đòi hỏi những gì quá sức chúng ta. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải yêu thương và trung thành tuyệt đối, vì Ngài biết chúng ta là phàm nhân yếu đuối. Ngài cho chúng ta ý chí và sự tự do, nếu chúng ta thường xuyên cầu xin ơn Chúa, Ngài sẽ làm cho chúng ta mạnh mẽ khi chống lại cái xấu.
Thiên Chúa là Đấng tốt lành và yêu thương, Ngài xứng đáng được chúng ta trung thành. Một khi nhận biết giá chúng ta phải trả nếu chúng ta tự tách khỏi tình yêu của Chúa và biết hỏa ngục thế nào, liệu chúng ta có bao giờ dám làm điều xấu dù chỉ 1 lần hay không? Chắc hẳn là không. Nhưng không thể chỉ nói suông, quan trọng là phải HÀNH ĐỘNG tích cực!


TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

Từ cái gọi là "Viện khổng tử" đến ý đồ Hán hóa nô dịch dân tộc Việt của đế quốc mới "Trung cộng"


LTCGVN (01.11.2013)

 
Trong bản tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc nhân chuyến viếng thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại Hà Nội giữa tháng 10 vừa qua, hai quốc gia đã thông báo chính thức thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam. Ngay từ năm 2009, Tập Cẩm Bình lúc đó là Phó CT nhà nước TQ sang thăm Việt Nam đã mở mặt trân xâm lược văn hóa để “Hán hóa” nô dịch dân tộc Việt Nam. Để góp phần đào tạo những cán bộ đảng viên CSVN phục vụ cho đế quốc mới TC, họ Tập tuyên bố viện trợ 30 triệu dollars để xây Ký túc xá với đầy đủ tiện nghi vật chất cho trường Đảng CSVN. Đặc biệt, Trung Quốc viện trợ một số tiền khổng lồ là 350 triệu dollars để xây “Cung Hữu nghị Việt-Trung” đồ sộ với đầy đủ tiện nghi vật chất, các trung tâm sinh hoạt văn hóa, thể thao giải trí để lôi cuốn nô dịch giới trẻ Việt Nam trong những sinh hoạt văn hóa văn nghệ, lễ hội, phim ảnh, thể thao và nhất là phim tập chiếu hàng ngày trên TV nhà nước, DVD phim truyện TQ tràn ngập thị trường trình chiếu khắp thôn cùng xóm vắng ở VN nên thanh niên trẻ em VN ngày nay thuộc lịch sử TQ hơn lịch sử Việt. Trong những lúc trò truyện, các em vẫn tự nhận mình là “Nam tử Hán” quên đi mình là người Việt, tự mình Hán hóa mình. Đó là nguy cơ lớn nhất của dân tộc Việt hôm nay! 

Xóa xổ Vinashin: Quái chiêu đổi tên để xù nợ của đồng chí X?


LTCGVN (01.11.2013)

Ngày 31/10/2013, website bộ Giao thông Vận tải vừa ra thông cáo báo chí xác nhận việc xóa bỏ tập đoàn kinh tế nhà nước Vinashin – nơi từng được hứa hẹn sẽ là “quả đấm thép” của hệ thống kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Dựa theo quyết đinh số 3287/QĐ-BGTVT của bộ này, một doanh nghiệp mới có tên Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SHIPBUILDING INDUSTRY CORPORATION, gọi tắt là SBIC) sẽ chính thức đi vào hoạt động, do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

SBIC được thành lập sẽ là doanh nghiệp thay thế cho tập đoàn Vinashin từng gây nhiều tai tiếng do tham nhũng và ăn chia, gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế nhân dân.

Đạo Hồ và Những nhà Ngoại cảm Việt Nam


LTCGVN (01.11.2013)

 

A- Đạo Hồ 


Đạo Hồ (hay Đạo Bác Hồ) dường như có khái niệm từ năm 2005, tồn tại và tìm cách phát triển hơn sau những phản ứng “đưa cao đánh khẻ” của giới chức cầm quyền địa phương, do bà Nguyễn Thị Điền --sau lầu bạo bệnh thập tử nhất sinh-- chủ xướng tại thôn Bài Lâm Hạ, xã Hồng Quang, Huyện Ứng Hòa, Hà Nội với ngôi nhà 3 tầng mới, sang trọng được gọi là Điện Hoàng Thiên Long.

Hiện nay “bộ sách Kinh Thiên và kho sách Văn Thiên do Thiên Linh ứng giáng đến nay đã có 50 tập Văn Thiên và còn tiếp nữa vì linh giáng ‘Biển Đông hết nước thì Trời mới hết linh, Trời hết linh thì đầu Điền mới hết chữ.’ ” [theo như nguyên văn: sic] vì đó, theo như bà Điền, là “kho báu Thiên Trao Ngọc Hạp,” là “kho lưu trữ Văn Lang,” và là “kho dược Nam cứu thế” được linh ứng viết ra từ “Thượng Đế Hồ Chí Minh,” kiêm “Đức Hồ Ngọc Phật.”

(“Thầy” Điền, vị giáo chủ, đang thuyết giảng về “Đức Ngọc Đế 
Hồ Chí Minh,” hay “Đức Hồ Ngọc Phật” nơi điện thờ phụ ở nhà mình)

TBT Nguyễn Phú Trọng và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng

LTCGVN (01.11.2013)

Đường lên CNXH. Tranh FB
Đường lên CNXH. Tranh FB

Khi đọc tin TBT Nguyễn Phú Trọng nói về tương lai CNXH trong buổi thảo luận tổ ở Quốc hội, bất giác tôi liên tưởng đến nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vừa được đề cập trên truyền hình VTV, vì cảm nhận một sự tương đồng, cũng vừa có những khác biệt lý thú, và đều gây khó hiểu như nhau.
Nhà “Ngoại cảm Tâm linh” Phan thị Bích Hằng, đã từng vang danh nhiều năm về công việc “tìm mộ”, nay đang làm xôn xao trên truyền hình và mạng với nhiều xét nét của dư luận. Đồng thời nhà Duy vật biện chứng xhcn danh tiếng, GS,TS Nguyễn Phú Trọng, đứng đầu ĐCSVN, cũng là người đứng đầu đất nước nổi tiếng nầy, cũng đang làm cho nhiều giới xôn xao, ngơ ngác.

50 năm sau cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm

Ngo_Dinh_Diem_-_Thumbnail_-_ARC_542189-305.jpg
TT Ngô Đình Diệm tại Washington DC tháng 8 năm 1957.
Courtesy U.S. Air Force


LTCGVN (01.11.2013)

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, một nhóm tướng lãnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam thực hiện cuộc đảo chánh làm sụp đổ chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kính Hòa hỏi chuyện một số nhân chứng của thời điểm ấy 50 năm sau.

Người lập ra nền đệ nhất cộng hòa

Nửa thế kỷ đã trôi qua từ ngày bùng nổ cuộc đảo chánh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa lật đổ vị Tổng thống của nền đệ nhất cộng hòa tại miền nam Việt Nam. Cuộc đảo chánh kết thúc đẫm máu với cái chết của ba anh em gia đình Tổng thống.
Hồi tưởng lại thời điểm 50 năm trước, nhà báo Trần Phong Vũ, vào thời điểm tháng 11 năm 1963 đang dạy học và làm việc tại đài phát thanh Sài Gòn, hiện đã về hưu và sống ở miền Nam California:
“Thế hệ chúng tôi là những người di cư từ miền Bắc vào miền nam vào lúc đã trưởng thành lúc đất nước bị chia đôi, nếu anh theo dõi các cao trào của đám sinh viên di cư từ miền bắc vào rồi được giúp đỡ rất là nhiều để học hành trở lại, rồi về phía quần chúng đượcc ổn định trong một đời sống rất khó khăn khi bỏ hết tài sản ở miền Bắc, với con số cả triệu người. Tôi nghĩ là trong tâm thức của họ là những ý nghĩ rất tốt đối với vị Tổng thống đã lập ra nền đệ nhất cộng hòa ở miền Nam.”

50 năm ngày TT Ngô Đình Diệm bị sát hại, nói về ông Ngô Đình Cẩn

LTCGVN (01.11.2013)

Sài Gòn – “Ưu điểm của ông Ngô Đình Cẩn mà ít người biết đến là lòng yêu nước, tinh thần chống cộng sản, và khả năng tình báo”. Ông Liên Thành – một sĩ quan thuộc Việt Nam Cộng Hòa, người có thời gian dài hoạt động tại Huế – đã viết như thế về ông Ngô Đình Cẩn.
“Ông Ngô Đình Cẩn là con áp út trong đại gia tộc Ngô Đình. Độc thân với hơn nửa cuộc đời sống âm thầm lo chăm sóc mẹ già, ông còn lo tổ chức cơ sở kết nạp những người có lòng với đất nước để hổ trợ cho các anh hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp và chống cộng sản. Tuy ít học, nhưng ông lại hết sức thông minh và là một người rất có năng khiếu về tình báo và chiến tranh du kích. Khi Chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh thì tình hình chính trị tại miền Trung rất khó khăn. Dân tình thì ly tán, đảng phái quốc gia thì chia rẽ, và việt cộng thì thừa lúc tranh tối tranh sáng hoạt động mạnh mẽ. Trong cơn nguy biến đó, ông Ngô Đình Cẩn đã tận sức giúp đỡ cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tái lập lại niềm tin của đồng bào miền Trung, đặc biệt là Huế. Đảng Đại Việt Cách Mạng của ông Hà Thúc Ký thiết lập chiến khu Ba Lòng Vùng Quảng Trị chống lại chính phủ. Sau khi diệt được chiến khu Ba Lòng một số lãnh tụ Đại Việt bị bắt. Điển hình là ông Tỉnh Trưởng Tỉnh Quảng Trị Trần Điền phải ra tòa và bị bản án rất nặng. Vậy mà ông Ngô Đình Cẩn đã vận động với chính phủ giảm án tối đa. Sau đó ông Ngô Đình Cẩn dùng tình thân xóa bỏ lỗi lầm, bằng cách mở trường trung học tư lấy tên là Trường Trung Học Bình Minh tại Quận III thị xã Huế và giao cho ông Trần Điền làm Hiệu trưởng điều hành”. Ông Liên Thành cho biết.
“Ưu điểm của ông Ngô Đình Cẩn mà ít người biết đến là lòng yêu nước, tinh thần chống cộng sản, và khả năng tình báo. Khả năng tình báo thiên phú của ông được biểu hiện cụ thể qua thành quả mà Đoàn Công Tác Đặc Nhiệm Miền Trung do ông thành lập, và giao cho ông Dương Văn Hiếu chỉ huy, đạt được. Điểm lại thành quả của tất cả các cơ quan tình báo VNCH thì Đoàn Đặc Nhiệm Miền Trung là một trong những cơ quan tình báo hữu hiệu nhất. Cụ thể, Đoàn Đặc Nhiệm Miền Trung đã làm cho Cụm Tình Báo Chiến Lược của Cộng Sản Hà Nội xấc bấc xang bang, dở sống dở chết với 95% cơ sở đã bị tận diệt, và một số phải di tản ngược ra Bắc vì không còn đất sống. 
Đáng chú ý là 80% điệp viên của bọn chúng bị đoàn Công Tác Miền Trung bắt giữ. Trong đó có Thiếu Tướng tình báo việt cộng Mười Hương, Đại Tá tình báo việt cộng Lê Câu, cùng hằng trăm tên tình báo chiến lược và phái khiển tình báo khác. Ông Ngô Đình Cẩn cũng là một chuyên viên lão luyện về chống du kích cộng sản”. Ông Liên Thành trình bày. 
Về cách đối xử với tù nhân của đối phương, ông Ngô Đình Cẩn có đối sách tuyệt vời:
“Một ví dụ điển hình là tù nhân Lê Đình Khôi thuộc Tổ Quân Báo của Cục Quân Báo Hà Nội. Ông Lê Đình Khôi, bị bắt và sau một thời gian ở trại tù nầy, đã được bổ nhiệm làm Trưởng Phòng Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Nha Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I. Một cán bộ khác thuộc Phái Khiển Tình Báo của Cục Tình Báo Hà Nội, bị bắt và sau thời gian ở trại tù nầy, cũng đã được bổ nhiệm đi làm Huấn Luyện Viên trường Tình Báo Cảnh Sát Quốc Gia của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I. Tất cả những việc nầy đều do chương trình và kế hoạch của ông Ngô Đình Cẩn và, lạ lùng thay, kế hoạch nầy lại có kết quả tốt. Đây cũng là một hình thức quốc sách Chiêu Hồi cán binh cộng sản về với Chính Nghĩa Quốc Gia của Chính Phủ Đệ II Việt Nam Cộng Hòa”.
Đối với Phật giáo, theo ông Liên Thành: “Vai trò của ông Ngô Đình Cẩn trong vấn đề chiêu hồi Thích Trí Quang về với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Để cảm hóa Thích Trí Quang, ông Ngô Đình Cẩn đã can thiệp với cơ quan an ninh để Trí Quang khỏi bị bắt trong vụ Phong Trào Hòa Bình của cộng sản tại Huế mà Thích Trí Quang là một thành phần quan trọng của phong trào nầy. Ngoài ra ông Ngô Đình Cẩn cũng giúp đỡ tài chánh cho Hội Phật Giáo tại Huế để trùng tu lại chùa Từ đàm cũng như các ngôi chùa khác.
Tất cả những công việc trên mà ông Ngô Đình Cẩn đã làm hoàn toàn có tính cách tự nguyện, không chức vụ gì do chính phủ bổ nhiệm và không lãnh lương tiền của chính phủ. Tất cả chỉ phát xuất từ lòng yêu nước, chống cộng sản, và phụ giúp cho Tổng Thống trong một số công việc”. 
Khi sự kiện ám sát ngài tổng thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu tại Chợ Lớn, Sài Gòn, thì tại Huế, ông Ngô Đình Cẩn xin tỵ nạn chính trị ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ tại Huế, nhưng đã bị đại sứ Cabot Lodge trao nộp cho “Hội đồng quân nhân cách mạng”.
Ông Liên Thành kể như sau: “Vào sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963 sau khi nhận được tin Tổng Thống và ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị sát hại, ông Ngô Đình Cẩn bí mật rời khỏi tư dinh trên đường Nguyễn Trường Tộ thuộc quận Hương Thủy, gần nhà thờ Phủ Cam. Ông xuống trú ẩn tại Dòng Chúa Cứu Thế tại đường Nguyễn Huệ thuộc Quận 3 Thị xã Huế. Nhà dòng đã sắp xếp cho ông một căn phòng nhỏ kín đáo trên lầu 2 để trú ẩn…
Biết được ông Ngô Đình Cẩn đang ẩn trốn tại Dòng Chúa Cứu Thế, Helble Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế liền đề nghị ông Cẩn vào tỵ nạn tại Tòa Lãnh Sự Mỹ cho an toàn. Ông Ngô Đình Cẩn đã được ông Helble Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế chấp nhận cho vào trốn tại Tòa Lãnh Sự Huế với tư cách là tỵ nạn chính trị. Ông Cẩn xin cho mẹ đi theo nhưng Tòa Tổng Lãnh Sự từ chối. Trong khi đó thì Cabot Lodge lại buộc Tòa Lãnh Sự tại Huế phải báo cáo rằng đã có hằng ngàn đồng bào bao vây tư gia của ông Cẩn tại Làng Phủ Cam và phải phao vu ông Cẩn có chứa vũ khí và tài liệu Việt Cộng trong nhà ông ta. Thật ra chẳng có gì cả mà là chuyện bịa đặt của ông Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge mà thôi…
Ngày 5 tháng 11 năm 1963 ông Ngô Đình Cẩn rời Dòng Chúa Cứu Thế đến Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Đống Đa thuộc Quận 3 Thị xã Huế. Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Helble nói với ông Cẩn rằng ông sẽ được đi tỵ nạn tại Hồng Kông. 
Sau đó ông Ngô Đình Cẩn rời Huế vào Saigon bằng phi cơ của Hoa Kỳ cùng với những người đi theo như sau: Phó Lãnh Sự Hoa Kỳ ông Mullen, 1 trung tá và 2 nhân viên an ninh Mỹ. Máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhất thay vì đổi chuyển máy bay, bay đi Hồng Kông như đã hứa thì phái đoàn Mỹ lại giao ông Cẩn cho “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” tống giam ông ta vào Khám Chí Hòa chờ ngày mở phiên tòa”.
13103103Theo ông Liên Thành, án tử của ông Ngô Đình Cẩn do ba thế lực gây ra bao gồm Hoa Kỳ, Nhóm tướng phản loạn và nhà sư Thích Trí Quang. Cũng theo ông Liên Thành, “Tướng Khánh chỉ còn một lựa chọn duy nhất là chỉ thị ông Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu lập ra một bộ luật mới, gọi là Sắc Luật số 4/64 ban hành ngày 28/2/1964. Sắc Luật số 4/64 này thiết lập Tòa Án Cách Mạng để quy một số hành động của các nhân vật cộng tác đắc lực cho chế độ Tổng Thống Diệm vào các tội cố sát, lũng đoạn kinh tế quốc gia v.v… và Sắc luật này còn được quy định có hiệu lực hồi tố. Trên căn bản thì hình luật chỉ áp dụng cho những hành vi trọng tội xẩy ra sau ngày ban hành luật đó mà thôi, vì vậy việc hồi tố là không đúng và hoàn toàn sai nguyên tắc. Vào ngày 24/4/1964 ông Ngô Đình Cẩn đã bị tòa án tuyên xử tử hình một cách vô luật pháp…
Chiều ngày 09.05.1964 trong tình trạng đang mang bệnh trầm trọng, tiểu đường và cao máu, không ngồi dậy được, ông Ngô Đình Cẩn được để nằm trên băng ca với 6 người khiêng từ phòng giam của khám Chí Hòa ra một bãi đất trống trong khuôn viên của khám giam. Một Linh Mục đến bên ông Ngô Đình Cẩn làm phép xức dầu, sau đó ông bị trói vào cây cột. Khi được hỏi nguyện vọng cuối cùng của ông, ông yêu cầu đừng bịt mắt khi bắn ông nhưng yêu cầu không được chấp thuận.
Và lời nói cuối cùng của ông Ngô Đình Cẩn mà giám thị trại giam, và một số người quanh vụ xử bắn nghe được: ‘Xin Chúa tha thứ cho kẻ giết mình’, rồi ông bị bắn bởi một tiểu đội hành quyết…
Đã năm mươi năm trôi qua, người mất thì đã mất, nhưng nỗi oan khiên vẫn còn đó. Xin một nén hương cúi đầu trước vong linh người ái quốc Ngô Đình Cẩn đã Vị Quốc Vong Thân”.
Tóm lược theo tài liệu của ông Liên Thành
Cống bố tại Orange County, ngày 24 tháng 10 năm 2013

[Video VietCatholic] Thế Giới Nhìn Từ Vatican 25/10 - 31/10/2013 - Ngày Gia Đình Thế Giới - Đời đời và niềm hy vọng Kitô Giáo

LTCGVN (01.11.2013)

1. Buổi triều yết chung thứ Tư 30 tháng 10.

Trong buổi triều yết chung hôm thứ Tư 30 tháng 10, tức là hai ngày trước lễ Các Thánh Nam Nữ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mô tả sự hiệp thông của các thánh như tình huynh đệ siêu nhiên giữa các ngài. Nhưng Đức Thánh Cha nói thêm sự hiệp thông này mở rộng cả cho người Công Giáo đang sống ngày hôm nay và những người đã qua đời trong Đức Kitô, để tất cả hiệp nhất thành Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì sự hiệp thông này, người Công Giáo có nghĩa vụ nâng đỡ lẫn nhau về tinh thần.

Đức Thánh Cha sẽ tấn phong các Hồng Y mới vào ngày 22-2-2014

LTCGVN (01.11.2013)

VATICAN. Hôm 31-10-2013, Cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, xác nhận tin ĐTC sẽ triệu tập công nghị để tấn phong các Hồng Y mới vào ngày 22-2 năm 2014.

Tin này được giới báo chí nói đến trong những ngày qua. Cha Lombardi cho biết trong dịp họp Hội đồng 8 Hồng Y cố vấn từ ngày 1 đến 3-10-2013, và sau đó là cuộc họp Hội đồng của Thượng HĐGM thế giới trong 2 ngày 7 và 8-10, ĐTC đã thông báo cho các tham dự viên ý định của ngài triệu tập một công nghị tấn phong Hồng Y mới vào lễ kính Tòa Thánh Phêrô 22-2-2013. ĐTC quyết định thông báo điều này để dễ hoạch định chương trình cho các cuộc họp khác với sự tham dự của các Hồng Y từ nhiều nơi trên thế giới.

Cha Lombardi cũng nói rằng người ta có thể đoán trước ĐTC muốn có cuộc họp của Hồng Y đoàn trước lễ tấn phong các Hồng Y mới, như các vị tiền nhiệm của ngài đã làm. Theo đó, Hội đồng 8 Hồng Y cố vấn sẽ nhóm khóa họp thứ 3 trong hai ngày 17 và 18-2 năm tới, và sau công nghị tấn phong Hồng Y mới có cuộc họp của Hội đồng Thượng HĐGM thế giới trong hai ngày 24 và 25-2.

Ngoài ra, Hội đồng 15 Hồng Y về vấn đề kinh tế và tổ chức của Tòa Thánh cũng sẽ nhóm vào tháng 2 năm tới, có lẽ là trong tuần lễ trước khi có công nghị tấn phong Hồng Y mới.

Vào khoảng giữa tháng 2 năm tới, Hồng Y đoàn sẽ còn tối đa là 201 vị, trong số này có 106 Hồng Y cử tri. Điều này có nghĩa là nếu ĐTC Phanxicô quyết định giữ nguyên qui luật tối đa là 120 Hồng Y cử tri, thì ngài có thể bổ nhiệm khoảng 14 Hồng Y mới và có thể có thêm vài vị trên 80 tuổi. (SD 31-10-2013)


LM. Trần Đức Anh OP

Suy Niệm LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ: "Vô Số Người Trên Thiên Quốc"


LTCGVN (01.11.2013)

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

KHẢI HUYỀN 7,2-4.9 ;1GIO-AN3,1-3 ; MÁT-THIÊU 5,1-12

Vô Số Người Trên Thiên Quốc



Ngày Lễ hôm nay thu hút sự chú ý của chúng ta về sự kiện thực, đó chính là vô số người đã hòan thành sự sống của mình một cách tốt đẹp. Hòan thánh sự sống tốt đẹp của các Ngài muốn nói ở đây rằng quả các ngài đã trở nên các thánh.

Vả lại chúng ta thấy lời mời gọi của Chúa Giê-su : « các con phải trở nên hoàn thiện như Cha các con ở trên trời là Ðấng hoàn thiện » (Mát thiêu 5,4-8). Lời mời gọi đó Chúa Giê-su hướng về hết thảy mọi người sống trên trái đất này, không miễn trừ một ai, có thể chúng ta nghĩ một cách tự nhiên rằng các ngài chỉ là một số nhỏ nam nữ nào đó đã trở nên đấng thánh. Thế nhưng Lễ các Thánh Nam Nữ nhắc lại cho chúng ta hay rằng các ngài là « một đoàn người thật đông đảo không tài nào đếm nỗi, thuộc mọi dân, mọi nước và mọi ngôn ngữ » (Khải Huyền 7, 9). Do đó, chúng ta chớ nói nên thánh quả là quá sức của tôi, nhưng chúng ta có thể nói rằng : với sự trợ giúp của Chúa Trời, thì một ngày nào đó tôi có thể hiện diện ở giữa đám đông vô số các thánh nam nữ này mà Hội Thánh cử hành long trọng kính mừng Lễ các ngài mỗi năm.

Các thánh tương lai

LTCGVN (01.11.2013)

Các thánh tương lai
Các thánh tương lai là ai? Không ai khác là chính các linh hồn nơi luyện hình.
Ngày 2 tháng 11 hàng năm là lễ Các Linh Hồn, Giáo hội Công giáo tưởng niệm những người đã chết và đang ở trong Luyện hình, chịu đau khổ để thanh tẩy các tội nhẹ trước khi được chính thức vào Nước Trời hưởng vĩnh phúc.
Người Công giáo có truyền thống tốt lành là dâng lễ và cầu nguyện cho các linh hồn quanh năm, đặc biệt vào ngày Lễ Cầu Hồn và suốt Tháng Mười Một. Người ta cũng lũ lượt ra nghĩa địa tu sửa mộ, thắp nhang và cầu nguyện cho các thân nhân đã bước vào cõi vĩnh hằng.
Cầu nguyện cho người chết là bổn phận và trách nhiệm của các Kitô hữu, đặc biệt là lãnh Ơn Toàn Xá thay cho các linh hồn. Ơn Toàn Xá sẽ tha hình phạt vì tội, nhờ đó mà các linh hồn được mau vào Thiên Quốc.

Giáo hội khải hoàn

LTCGVN (01.11.2013)

Giáo hội khải hoàn

(Lễ các Thánh)

Thánh Phaolô nói: “Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4:5-6). Giáo hội duy nhất nhưng có ba thành phần: Giáo hội Khải hoàn (các thánh vinh hiển), Giáo hội Đau khổ (các linh hồn nơi luyện ngục), và Giáo hội Chiến đấu (những người trên đường lữ hành trần gian). Ba thành phần của Giáo hội được gọi là “các thánh cùng thông công”.